GLÔCÔM BẨM SINH

Cập nhật lúc: 16:02 28/02/2018

          Bệnh thường gặp trong giai đoạn 1 tháng đến 2 năm tuổi (75%), thường ở hai mắt (khoảng 60%).

          Biểu hiện lâm sàng: Có thể đơn thuần hoặc hình thái phối hợp những bệnh lý phức tạp khác tại mắt và toàn thân. Vì vậy biểu hiện của Glocom bẩm sinh đa dạng tuỳ theo hình thái và giai đoạn của bệnh.

          - Những dấu hiệu gợi ý: chói, chảy nước mắt, sợ ánh sáng. Nếu ở giai đoạn muộn nhãn cầu thường to bất thường hay trẻ nhìn rất kém.

          - Các bác sỹ chuyên khoa nhi khám xét có thể phát hiện ra những biểu hiện bất thường ở mắt như giác mạc to, lõm teo gai thị, nhãn áp cao hay trường nhìn bị thu hẹp. Khi ở giai đoạn nặng có thể thấy nhãn cầu dãn phình, giác mạc đục trắng, mất chức năng… Một số biểu hiện bất thường khác tại mắt và toàn thân có thể đi kèm như: không có mống mắt, dị tật đồng tử, lệch thể thuỷ tinh, u mạch mắt – mặt, chân tay dài ngắn bất thường,…

          - Chẩn đoán xác định:Chói, chảy nước mắt, sợ ánh sáng, giác mạc to đục, nhãn áp cao, lõm gai Glocom và một số chức năng bị tổn hại.

          Chẩn đoán phân biệt: Với một số bệnh sau:

          - Phù giác mạc ở những trẻ bị Fooxcep. Những trẻ này có tiền sử Fooxcep, có đục giác mạc những tình trạng phù giác mạc sẽ giảm đi nhanh chóng sau khi được điều trị bằng các thuốc giảm phù.

          - Tắc lệ đạo đây là một bệnh hay gặp ở trẻ em nhưng thường không có biểu hiện chói, sợ ánh sáng. Tình trạng chảy nước mắt sẽ giảm đi nhanh chóng sau khi đường lệ đạo được kiểm tra bơm thông.          

          - Giác mạc to bẩm sinh là một dị tật bẩm sinh nhưng không có các triệu chứng chói, sợ ánh sáng, chảy nước mắt. Khi khám không phát hiện ra bất thường của nhãn cầu trừ biểu hiện giác mạc to.          

          - Cận thị nặng: Không có các triệu chứng chói, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, chống viêm.          

          - Một số bệnh viêm giác mạc sơ sinh: Các triệu chứng sẽ giảm khi sử dụng thuốc kháng sinh, giảm viêm.

          Điều trị: Điều trị Glocom bẩm sinh chủ yếu bằng phẫu thuật. Hiện nay có nhiều phương pháp phẫu thuật nhưng các phương pháp chỉ điều trị có hiệu quả cao khi bệnh được phát hiện và điều trị sớm. Bên cạnh đó thuốc điều trị hạ nhãn áp có thể được sử dụng trong thời gian chuẩn bị phẫu thuật hoặc giữa các lần phẫu thuật.

          Theo dõi sau phẫu thuật: Có ý nghĩa rất quan trọng. Bệnh tiến triển tốt khi hết các triệu chứng chói chảy nước mắt, sợ ánh sáng và các thông số giải phẫu và chức năng hồi phục tốt. Điều đó có nghĩa là bệnh nhân cần tuân thủ chu trình điều trị và theo dõi lâu dài theo sự hướng dẫn của thầy thuốc nhãn khoa.